Thứ Năm, 30 tháng 7, 2015

Giáo trình tự học Corel DRAW cơ bản - Phần 8

Chọn nhiều đối tượng (Bài 8) 


Cho đến giờ, bạn chỉ quen thuộc với việc chon từng đối tượng một. Sẽ có nhiều thao tác đòi hỏi bạn phải chọn cùng lúc nhiều đối tượng. Có hai cách để làm việc này:
Dùng công cụ chọn để "căng" một khung chữ nhật bao quanh các đối tượng mà bạn muốn chọn (giống như khi dùng "kính lúp"). Người ta gọi khung chữ nhật như vậy là khung chọn (marquee box). Cách thức này thường dùng trong trường hợp bạn muốn chọn hết các đối tượng nằm "dồn đống" trong phạm vi nào đó.
Dùng công cụ chọn để bấm vào từng đối tượng muốn chọn đồng thời ấn giữ phím Shift. Cách thức này thích hợp khi các đối tượng cần chọn nằm rải rác, xen kẽ với các đối tượng mà bạn không muốn chọn.

Bấm vào công cụ chọn
 
Trỏ vào phía trên, bên trái nhóm nhân vật vui vẻ của ta, kéo chuột qua phải, xuống dưới sao cho khung chọn bao quanh cả ba nhân vật (hình 1)
Chọn cả 3 đối tượng: cậu bé, ông gầy và ông béo. Khung chọn là khung chữ nhật có nét "gạch gạch" màu xanh dương.
Thả phím chuột
Tám dấu chọn xuất hiện, bao quanh cả 3 nhân vật, tỏ ý rằng 3 đối tượng này cùng được chọn
Bấm vào đâu đó trên miền vẽ
"Thôi chọn" các nhân vật
Bấm vào ông gầy
Lại chọn ông gầy
Ấn giữ phím Shift rồi bấm lần lượt vào cậu bé và ông béo
Chọn thêm cậu bé và ông béo. Bạn có kết quả như trước: cả 3 nhân vật đều được chọn

Hình 1

Để cho tiện, ta gọi chung các đối tượng cùng được chọn là tập hợp chọn (selection set). Muốn loại một đối tượng nào đó ra khỏi tập hợp chọn ("thôi chọn" một đối tượng trong tập hợp chọn), bạn cũng ấn giữ phím Shift và bấm vào đối tượng ấy. Do vậy, khi cần chọn khá nhiều đối tượng nằm rải rác, trước hết ta dùng khung chọn để "vây bắt" nhanh chóng tất cả đối tượng trong phạm vi cần thiết. Sau đó, bạn tiến hành "thanh lọc" các đối tượng không muốn chọn bằng cách ấn giữ phím Shift và bấm vào từng đối tượng như vậy. 

Ấn giữ phím Shift và bấm vào cậu bé
Cậu bé bị "thôi chọn". Tập hợp chọn chỉ còn ông gầy và ông béo
Ấn giữ phím Shift và bấm vào cậu bé
Cậu bé lại được chọn. Tập hợp chọn bao gồm cả 3

nhân vật.

Lưu trữ bản vẽ 


Tạm ngưng nô đùa với các nhân vật vui vẻ của ta, giờ là lúc nghĩ đến chuyện lưu trữ bản vẽ dưới dạng tập tin trên đĩa, ít ra là để làm... kỷ niệm. Rồi mai đây bạn có thể xem lại và nhớ về "cái thuở ban đầu lưu luyến" với Corel DRAW. 
Tốt nhất bạn nên tạo cho mình một thư mục riêng để lưu trữ các bản vẽ thực tập được tạo ra trong quá trình tìm hiểu Corel DRAW. Sau này bạn sẽ có thói quen lưu trữ mỗi công việc cụ thể trong một thư mục. Tập quán như vậy giúp cho hoạt động của bạn được suôn sẻ, ngăn nắp, lại không làm phiền người khác (nếu bạn phải dùng chung máy). 

Chọn File > Save hoặc ấn Ctrl+S
Hộp thoại Save Drawing xuất hiện
Bấm vào dấu mũi tên chỉ xuống ở ô Save in và chọn (C:)
Vào thư mục gốc của đĩa cứng C
Bấm vào nút Create New Folder               và gõ tên thư mục mà bạn muốn tạo ra. Bạn có thể lấy tên của mình để đặt cho thư mục thực tập
 
Bấm-kép vào thư mục thực tập
Vào thư mục mới tạo ra
Bấm vào ô File name và gõ tên bản vẽ, chẳng hạn thuc tap 01
Đặt tên cụ thể cho tập tin bản vẽ thay cho tên mặc định là Graphic1 (hình 2)

Hình 2

Dĩ nhiên bạn có thể đặt tên tùy ý cho tập tin bản vẽ. Về nguyên tắc, bạn có thể đặt tên tập tin dài tối đa 256 chữ cái. Với 256 chữ cái, ta có thể diễn đạt thoải mái, rõ ràng ý nghĩa, nội dung của bản vẽ. 
Trong ô Save as type trên hộp thoại Save Drawing, bạn có thể chọn dạng thức tập tin bản vẽ. Thông thường ta không cần sửa đổi gì và chỉ việc chấp nhận dạng thức cdr, dạng thức tiêu chuẩn để ghi bản vẽ của Corel DRAW. Nếu vậy, cdr trở thành phần phân loại (extension) trong tên tập tin bản vẽ của bạn. Nói khàc đi "tên họ" đầy đủ của tập tin bản vẽ sẽ là thuc tap 01.cdr. 

Các ô Keywords và Notes giúp bạn có cơ hội ghi chú thích về bản vẽ. Bạn cần gõ vào ô Keywords các từ vắn tắt, dễ nhớ, gọi là "từ chốt", giúp bạn sau này có thể tìm được bản vẽ đang xét (trong cả ngàn bản vẽ khác chẳng hạn!) bằng các công cụ tìm kiếm trong Windows. Trong ô Notes, bạn có thể mô tả khá thoải mái nội dung bản vẽ, "lai lịch" của nó hoặc lời nhắn chi đó với người được bạn "thân tặng" bản vẽ. 
Phía bên phải hộp thoại Save Drawing, bạn thấy có "ô liệt kê buông xuống" Version, cho phép ta ghi bản vẽ theo dạng thức của các phiên bản Corel DRAW khác nhau. Đieều này rất có ích khi bạn cần "giao lưu" với các đồng nghiệp còn trung thành với phiên bản cũ. 

Lựa chọn tại ô Thumbnail giúp bạn có thể tạo ra hình tiêu đề (thumbnail, bitmap header) cho bản vẽ. Hình tiêu đề là "ảnh chụp" nho nhỏ của bản vẽ, được ghi dưới dạng bitmap ở đầu tập tin bản vẽ. Khi chọn mở bản vẽ có "gắn" hình tiêu đề, bạn sẽ thấy ngay nội dung "đại khái" của bản vẽ trong ô Preview của hộp thoại Open Drawing. Đó là vì hình tiêu đề của bản vẽ được Corel DRAW nạp rất nhanh vào bộ nhớ của máy. Nhờ vậy, bạn không phải mất công mở từng bản vẽ khi dò tìm (có khi phải chờ đợi ngán ngẩm chỉ để biết sơ lược trong bản vẽ chứa cái giống gì). 
Cụ thể, ô Thumbnail bày ra các khả năng lựa chọn như sau: 
  • None: Khỏi ghi hình tiêu đề (lựa chọn mặc định). 
  • 1K (mono): Ghi hình tiêu đề ở dạng trắng đen, lớn chừng 1 KB. 
  • 5K (color): Ghi hình tiêu đề ở dạng có màu, lớn chừng 5 KB. 
  • 10K (color): Ghi hình tiêu đề ở dạng có màu "khá đẹp", lớn chừng 10 KB. 
Nếu kèm hình tiêu đề, tập tin bản vẽ của bạn sẽ phình lên chút xíu, chừng 1 KB, 5 KB hay 10 KB. Tuy nhiên, do lợi ích mà hình tiêu đề mang lại, bạn rất nên tạo hình tiêu đề cho bản vẽ (khi số bản vẽ của bạn đã trở nên đáng kể, bạn khó mà nhớ rõ nội dung bản vẽ dựa vào tên tập tin). 

Nói chung, trừ việc xác định thư mục và đặt tên tập tin bản vẽ, bạn có thể không chú ý các phần còn lại của hộp thoại Save Drawing và bấm ngay vào nút Save. Tuy nhiên, đối với bản vẽ "lấy hên" này, bạn nên chịu khó một chút... 

Bấm vào ô Keywords và gõ từ chốt chi đó, chẳng hạn nhung nguoi thich dua
 
Bấm vào ô Notes và ghi vào đấy đôi lời "tâm huyết" của bạn
 
Bấm vào nút Save
Bản vẽ được ghi lên đĩa. Corel DRAW đưa bạn trở lại
với miền vẽ. tên tập tin xuất hiện trên thanh tiêu đề của cửa sổ Corel DRAW 

Trước mắt bạn là bản vẽ "những người thích đùa" đang nằm trên bộ nhớ của máy. Để tin chắc bản vẽ này đã được lưu trữ trên đĩa dưới dạng tập tin, ta hãy thử đóng bản vẽ (xóa nó trên bộ nhớ) và mở tập tin bản vẽ vừa tạo ra (nạp lại bản vẽ vào bộ nhớ). 

Chọn File > Close
Đóng bản vẽ hiện hành
Chọn File > Open hoặc ấn Ctrl+O
Hộp thoại Open Drawing xuất hiện (hình 3)
Bạn thấy rõ rành rành trong thư mục "thực tập" của mình có tập tin bản vẽ mà ta vừa tạo ra.
Bấm vào tên tập tin rồi bấm vào nút Open (hoặc bấm-kép vào tên tập tin)
Corel DRAW nạp bản vẽ đầu tay của bạn vào bộ nhớ


Hình 3



Thứ Tư, 29 tháng 7, 2015

Các bước cần làm để phát hiện ung thư vú

Ung thư vú là loại ung thư thường gặp và gây tử vong cao ở phụ nữ. Việc quan tâm phát hiện ung thư vú sớm sẽ cho phụ nữ cơ hội chữa khỏi bệnh hoàn toàn. 

Các phương pháp dùng để phát hiện ung thư vú là: khám định kỳ, chụp nhũ ảnh và tự khám vú tại nhà. Ung thư vú phát triển chậm. Khối u có kích thước 1cm sẽ mất 6 đến 8 năm để hình thành. Khi các mô ung thư chưa lan sang các hạch bạch huyết, người bệnh sẽ có cơ hội chữa khỏi hoàn toàn ung thư cao hơn.

Chụp nhũ ảnh được cho là cách tối ưu để chẩn đoán sự hình thành các mô ung thư ở giai đoạn sớm. Thông thường, phụ nữ sau 40 tuổi nên chụp nhũ ảnh định kỳ. Bạn nên chụp nhũ ảnh định kỳ sớm hơn ở tuổi 30 khi nằm trong các trường hợp sau:

  • Có người thân trong gia đình bị ung thư vú;
  • Bị ung thư ruột kết hoặc ung thư buồng trứng;
  • Sinh con sau 30 tuổi.

Ngoài ra còn có các yếu tố khác làm tăng tỷ lệ ung thư vú ở phụ nữ như:

  • Hút thuốc lá và uống đồ uống có cồn thường xuyên.
  • Dùng thuốc tránh thai thường xuyên liên tục trong thời gian dài;
  • Cho con bú dưới 6 tháng;
  • Có kinh sớm (dưới 12 tuổi) và mãn kinh trễ (trên 55 tuổi); Béo phì hoặc BMI* trên 30.5; 

BMI = (trọng lượng cơ thể)/bình phương chiều cao

  • Trọng lượng cơ thể: tính bằng kg.
  • Chiều cao: tính bằng m]

Những điều bạn cần chú ý quan sát khi tự khám ngực:

Bạn nên có một cuốn sổ tay để ghi lại những đặc điểm bình thường của ngực sau khi khám lần đầu. Cố gắng ghi nhớ những đặc điểm này để đối chiếu với lần khám sau.

Thời gian khám:

Hãy tự khám mỗi tháng một lần, khám thường xuyên đều đặn kể cả khi đã mãn kinh. Ngoài ra nếu có bất kỳ biểu hiện nào khác thường bạn cũng cần ghi nhận để thảo luận với bác sỹ. Bạn nên khám vú khi đang có kinh nguyệt vì ở thời gian này vú sẽ mềm hơn.

Các bước tự khám vú khi ở tư thế đứng, tư thế khi đang tắm và tư thế nằm.

Tự khám vú ở tư thế đứng:

Hình 1: Tự khám vú bằng các động tác (từ trái qua phải): di chuyển tay lên xuống trên bầu ngực, di chuyển tay theo vòng tròn, di chuyển tay từ núm vú ra ngoài và ngược lại


  • Đứng trước gương, thả lỏng tay xuôi theo thân hình, quan sát hình dáng ngực xem có thay đổi gì so với lần khám trước hay không;
  • Tiếp tục quan sát ngực ở tư thế đứng, giơ hai tay qua đầu rồi hạ tay xuống ở tư thế chống hông. Lặp lại nhiều lần và quan sát bất thường;
  • Khép các ngón tay và khám ngực theo 3 cách như hình 1.

Tự khám vú trong khi tắm và lúc nằm:

Khám vú khi da ướt sẽ giúp các ngón tay di chuyển dễ dàng hơn. Bắt đầu ở tư thế đứng thoải mái, tay giơ cao và khám theo 3 cách như hình 1. Thực hiện cho cả 2 vú.

Khám vú lúc nằm, đặt một chiếc gối nhỏ hoặc khăn lông cuộn tròn dưới lưng ở phía vú chuẩn bị khám. Khám theo 3 cách như hình 1. Thực hiện cho cả 2 vú.

Khi khám, bạn cần chú ý quan sát và cảm nhận các đặc điểm sau:

  • Vú có khối u nổi cộm không? Khối u cứng hay mềm, kích thước thế nào?
  • U có đau hay không. Ngay cả khi khối u không đau bạn cũng cần cẩn thận ghi nhận.
  • Hình dáng ngực có sự thay đổi so với trước đây
  • Màu sắc da thay đổi.
  • Kích thước ngực thay đổi (một bên to bất thường chẳng hạn)
  • Khi khám có dịch tiết bất thường ở núm vú.

Nếu có một trong những biểu hiện trên, bạn cần đến bác sĩ để có những chẩn đoán kịp thời.

Trên đây là các cách tự khám vú để phát hiện ung thư sớm nhất, các bạn có thể dễ dàng thực hiện, nếu có điều gì bất thường thì nên đến cơ sở y tế khám ngay để có hướng điều trị kịp thời.





Các bước căn bản để xào thịt bò ngon

Chỉ cần qua 3 bước căn bản là bạn gái đã có thể xào được một đĩa thịt bò thơm ngon rồi

1. Chọn thịt:

Khi mua các bạn nên chọn các phần thịt ngon nhất của con bò: Thăn ngoại bò, mông đùi sau, nạc vai


2. Sơ chế, tẩm ướp thịt


  • Thái thịt bò thành miếng mỏng. Để dễ thái mỏng cho thịt vào ngăn đá khoảng 30 phút
  • Ướp thịt trong lúc chuẩn bị nguyên liệu khác
  • Đun nóng ít dầu trong chảo bằng lửa lớn vừa



3. Nấu thịt bò


  • Cho 200 gram thịt bò vào chaỏ, dùng muôi dẹt đảo. Nên chia thành nhiều mẻ nếu cần xào nhiều hơn
  • Xào cho đến khi bề mặt thịt bò không còn mầu hồng
  • Xào thịt bò và rau riêng sau đó mới xào lẫn
  • Nên hòa chút bột ngô với nước, cho vào khi xào nếu muốn món ăn có độ sệt, bóng.
  • ốt nhất nên xào bằng chảo có cán dài để tiện cầm đảo khi cần








Giáo trình tự học Corel DRAW cơ bản - Phần 7

Tác dụng của phím "cộng lớn" (Bài 7) 

Khi đang kéo xiên đối tượng, nếu bạn gõ phím "bự con" có dấu cộng (+) ở rìa phải bàn phím (thuộc bộ phím số), Corel DRAW sẽ tự động sao chép đối tượng được chọn để tạo ra đối tượng mới.

Trỏ vào dấu chọn quay ở giữa cạnh trên khung bao
Dấu trỏ biến thành mũi tên kép nằm ngang
Kéo dấu chọn qua phải
Nhân vật của ta "cười nghiêng ngả"
Gõ phím "cộng lớn"
Nhân vật "cười nghiêng ngả" trở thành đối tượng mới
Thả phím chuột
Bạn có hai nhân vật ở hai tư thế khác nhau (hình 1)
Để thấy rõ rằng ta thực sự có hai nhân vật, bạn thử di chuyển nhân vật "cười ngả
nghiêng" về phía sau...

Bấm vào nhân vật "cười nghiêng ngả"
Dấu chọn quay chuyển thành dấu chọn bình thường. Dấu X ở giữa nhân vật tỏ vẻ sẵn sàng để bạn di chuyển
Kéo nhân vật "cười nghiêng ngả" qua phải
Bạn thấy rõ hai nhân vật khác nhau (hình 2)
Hình 1

Hình 2















Tác dụng "sinh sản vô tính" của phím "cộng lớn" có hiệu lực tương tự trong mọi thao tác trên đối tượng mà bạn đã biết (di chuyển, co dãn, quay tròn). Trong trường hợp muốn tạo ra đối tượng mới giống hệt đối tượng được chọn và ở cùng vị trí, bạn chỉ cần gõ một phát vào phím "cộng lớn" là xong. Khi ấy, đối tượng mới nằm chồng khít trên đối tượng cũ.
 

Xóa bỏ đối tượng 


Muốn thực tập việc sao chép đối tượng cho quen tay, bạn cần biết cách xóa bỏ đối tượng (nếu không bạn sẽ hoa mắt vì số lượng đối tượng gia tăng nhanh chóng). Rất đơn giản, để xóa bỏ đối tượng nào đó, bạn chọn đối tượng ấy (dĩ nhiên) và gõ phím Delete. Thay vì gõ phím Delete, ta có thể thực hiện thao tác có hiệu lực tương đương: chọn Edit > Delete (nhưng chẳng ai dại gì mà làm vậy).

Đã biết cách "điều tiết dân số", bạn cứ tự nhiên thử nghiệm hiệu lực của phím "cộng lớn" trong thao tác di chuyển, co dãn và quay tròn nhân vật, theo đúng cách thức như trong thao tác kéo xiên vừa rồi. 
Để "chơi đùa" thoải mái hơn, bạn lấy thêm hai nhân vật nữa từ mạng. 

Chọn Tools > Scrapbook > Contents on the Web
Cửa sổ neo đậu Scrapbook xuất hiện (nếu bạn chưa kết nối với mạng, máy sẽ đề nghị bạn kết nối)
Mở thư mục Clipart > Fun_people
 
Lần lượt kéo thêm hai nhân vật nữa vào miền vẽ và đặt các nhân vật gần bên nhau
Bạn tạo được khung cảnh "đầm ấm", vui vẻ như hình 3

Hình 3

Sắp xếp thứ tự các đối tượng 


Khi đưa các nhân vật đến gần nhau, bạn thấy rõ rằng đối tượng mới "đứng phía trước" (hoặc "nằm bên trên") đối tượng cũ (ông béo đứng trước ông gầy, chú bé đứng trước ông béo). Tuy nhiên, ta có thể thay đổi dễ dàng thứ tự "trước sau" của các đối tượng thông qua các mục chọn trên trình đơn con Order ("thứ tự") của trình đơn Arrange ("sắp xếp") như bạn thấy trên hình 4.
 
Hình 4

Bốn mục chọn đầu tiên của trình đơn con Order có ý nghĩa như sau:

  • To Front: Đưa đối tượng được chọn lên trên cùng. 
  • To Back: Đưa đối tượng được chọn xuống dưới cùng. 
  • Forward One: Nâng đối tượng được chọn lên một mức. 
  • Back One: Hạ đối tượng được chọn xuống một mức. 

Chọn ông gầy
 
Chọn Arrange > Order > To Front hoặc ấn Shift+PageUp
Ông gầy được đưa lên trên cùng, đè lên cậu bé (hình 5)
Chọn Arrange > Order > To Back hoặc ấn Shift+PageDown
Ông gầy được đưa xuống dưới cùng (như cũ)
Chọn Arrange > Order > Forward One hoặc ấn Ctrl+PageUp
Ông gầy được đưa lên một mức, đè lên ông béo
Chọn Arrange > Order > Forward One hoặc ấn Ctrl+PageUp
Ông gầy được đưa lên một mức nữa, đè lên cậu bé
Chọn Arrange > Order > Back One hoặc ấn Ctrl+PageDown
Ông gầy được đưa xuống một mức, nằm dưới cậu bé nhưng đè lên ông béo
Chọn Arrange > Order > Back One hoặc ấn Ctrl+PageDown
Ông gầy được đưa xuống một mức nữa, nằm dưới cùng

Hình 5

Hai mục chọn tiếp theo của trình đơn con Order giúp bạn có thể thay đổi thứ tự các đối tượng nhanh hơn, linh hoạt hơn:
In Front Of: Đặt đối tượng được chọn ở ngay trên đối tượng nào đó do bạn chỉ định.
Behind: Đặt đối tượng được chọn ở ngay dưới đối tượng nào đó do bạn chỉ định.

Chọn ông gầy
 
Chọn Array > Order > In Front Of
Corel DRAW hiển thị một "mũi tên đen" to đùng, ngỏ ý đề nghị bạn cho biết cần đặt ông gầy ở phía trước nhân vật nào
Bấm "mũi tên đen" vào cậu bé
Ông gầy được đặt trên cậu bé
Chọn Array > Order > Behind
Corel DRAW lại hiển thị một "mũi tên đen", đề nghị bạn cho biết cần đặt ông

gầy ở phía sau nhân vật nào
Bấm "mũi tên đen" vào ông béo
Ông gầy được đặt sau ông béo









Thứ Ba, 28 tháng 7, 2015

Giáo trình tự học Corel DRAW cơ bản - Phần 6

Thanh công cụ Property Bar (Bài 6) 


Chắc bạn còn nhớ, thanh công cụ Property Bar có khả năng thay đổi xoành xoạch tùy theo tình huống cụ thể. Khi co dãn đối tượng, bạn để ý, thanh công cụ Property Bar có dạng như hình 1 (bạn sẽ thấy tên gọi của các thành phần khác nhau trên thanh công cụ nếu trỏ vào từng thành phần và chờ chừng một giây).  

Hình 1

Ý nghĩa của mỗi thành phần trên thanh công cụ Property Bar như sau:

Object(s) Position: Đây là thành phần thể hiện vị trí của đối tượng (cụ thể là tọa độ góc trên, bên trái của khung bao), bao gồm hai ô x và y cho biết hoành độ và tung độ, tính từ mốc số 0 trên thước đo ngang và thước đo dọc. Muốn di chuyển đối tượng đến vị trí nào đó có tọa độ cho trước, bạn có thể bấm-kép vào ô và gõ tọa độ. Trong Windows, người ta thường gọi loại ô như vậy là ô nhập liệu (input field). 

Object(s) Size: Thành phần này thể hiện kích thước đối tượng (thực chất là kích thước của khung bao). Ô nhập liệu bên trên cho biết chiều rộng, ô nhập liệu bên dưới cho biết chiều cao. "Gọi là ô nhập liệu? Nghĩa là ta có thể gõ trị số mới vào đấy?". Vâng, đúng như vậy. Bạn có thể quy định "thẳng thừng" kích thước chính xác của đối tượng bằng cách gõ trị số cụ thể vào hai ô nhập liệu đang xét.

Scale Factor: Hai ô nhập liệu này thể hiện liên tục tỉ lệ co dãn theo chiều rộng và theo chiều cao trong khi bạn đang co dãn đối tượng. Bạn có thể gõ vào ô nhập liệu tỉ lệ co dãn cụ thể. Chẳng hạn, để làm đối tượng được chọn dãn rộng gấp đôi, bạn gõ vào ô nhập liệu bên trên trị số 200 (tức 200%).

Nonproportional Scaling/Sizing Ratio: Thành phần này có biểu tượng hình ổ khóa với hai trạng thái đóng và mở (để đóng/mở bạn chỉ việc bấm vào ổ khóa). Khi ổ khóa đóng, tỉ lệ co dãn theo chiều rộng và theo chiều cao luôn luôn bằng nhau, giữ cho đối tượng không bị biến dạng. Ví dụ, nếu bạn đóng khóa này và gõ 200 trong ô nhập liệu Scale Factor bên trên, ô nhập liệu Scale Factor bên dưới tự động nhận trị số 200. Để có thể điều chỉnh độc lập mỗi ô nhập liệu Scale Factor, bạn phải mở khóa.

Angle of Rotation: Khi bạn quay tròn đối tượng (ta sẽ tìm hiểu cách làm chuyện này trong phần tiếp theo), góc quay tính bằng độ được thể hiện trong ô nhập liệu này. Cũng như các ô nhập liệu vừa nêu, bạn có thể quay tròn đối tượng được chọn bằng cách gõ trị số góc quay cụ thể vào ô nhập liệu Angle of Rotation.

Mirror Buttons: Thành phần này gồm hai nút bấm giúp bạn lật ngang hoặc lật đứng đối tượng được chọn. Cách thức này nhanh chóng hơn so với việc nắm lấy dấu chọn, điều chỉnh để có tỉ lệ co dãn theo chiều rộng hoặc theo chiều cao là -100%.
Bạn còn thấy có những thành phần khác nữa trên thanh công cụ Property Bar nhưng ta sẽ tiếp tục tìm hiểu trong dịp khác. Lúc này ta hãy thử "chơi bời" chút xíu với các thành phần vừa nêu.

Bấm-kép vào ô nhập liệu Scale Factor bên trên
Trị số 100.0 trong ô bị "đảo màu", thể hiện tình trạng sẵn sàng để thay đổi
Đóng khóa Nonproportional Scaling/Sizing
Ratio
Khóa được "bấm lại"
200 và gõ Enter
Nhân vật của ta lớn lên gấp đôi
Ấn Ctrl+Z
 
Bấm vào nút Mirror Buttons bên trên
Nhân vật bị lật ngang
Ấn Ctrl+Z
 
Bấm vào nút Mirror Buttons bên dưới
Nhân vật bị lật đứng
Ấn Ctrl+Z
 
Bấm-kép vào ô nhập liệu Angle of Rotation
Trị số 0.0 trong ô bị "đảo màu", thể hiện tình trạng sẵn sàng để thay đổi
45 và gõ Enter
Nhân vật bị quay tròn 45 độ
Ấn Ctrl+Z
 


Quay tròn đối tượng 


Việc quay tròn (rotate) đối tượng bằng cách gõ trị số góc quay cụ thể chỉ thích hợp khi bạn có dự định thật rõ ràng. Thông thường, ta chỉ "xoay trở" đối tượng để tìm một tư thế nào đó được xem là thích hợp (mà ta cũng chưa rõ lắm). Cũng như khi nắm lấy đối tượng để di chuyển, Corel DRAW cho phép bạn quay tròn đối tượng một cách trực quan, rất dễ chịu.

Khi đối tượng đang có các dấu chọn hình vuông bao quanh, nếu bạn bấm vào đối tượng ấy lần nữa (vào giữa đối tượng hoặc vào đường nét của đối tượng), các dấu chọn hình vuông biến thành mũi tên hai đầu, thể hiện tình trạng sẵn sàng "khiêu vũ" (hình 2). Ta sẽ gọi các dấu chọn như vậy là dấu chọn quay (rotation handle). Thay cho dấu X giữa đối tượng là một vòng tròn nhỏ có dấu chấm ở tâm nhằm thể hiện thật rõ tâm quay. Để cho tiện, ta gọi chính vòng tròn nhỏ ấy là tâm quay (center of rotation). 

Bạn chỉ việc trỏ vào dấu chọn quay ở một trong bốn góc khung bao (sao cho dấu trỏ thay đổi thành dạng mũi tên tròn hai đầu) và kéo đối tượng quay tròn tùy thích. Tâm quay mặc định nằm giữa đối tượng. Bạn có thể kéo tâm quay đến vị trí khác để tạo ra phép quay như ý.

Hình 2

Lúc này nhân vật của ta đang ở trong tình trạng "được chọn" thể hiện bởi các dấu chọn hình vuông bao quanh.
Bấm vào giữa nhân vật
Các dấu chọn quay xuất hiện (hình 2)
Trỏ vào dấu chọn quay ở một trong bốn góc khung bao
Dấu trỏ của chuột biến thành mũi tên tròn hai đầu
Kéo dấu chọn quay tròn
Nhân vật quay tròn theo sự điều khiển của bạn
Thả phím chuột
Nhân vật yên vị ở tư thế mới (hình 3)
Ấn Ctrl+Z
Nhân vật trở về tư thế cũ
Kéo tâm quay qua bên trái
 
Kéo dấu chọn ở một trong bốn góc quay tròn
Nhân vật quay tròn quanh tâm mới
Ấn Ctrl+Z
Nhân vật trở về tư thế cũ
Ấn Ctrl+Z lần nữa
Tâm quay trở về vị trí cũ

Hình 3


Kéo xiên đối tượng 


Nếu bạn trỏ vào dấu chọn quay ở giữa cạnh khung bao (thay vì ở góc), dấu trỏ sẽ biến thành mũi tên kép. Khi ta kéo dấu chọn quay như vậy, đối tượng sẽ không quay tròn mà bị nghiêng đi, "quay quắt". Người ta gọi thao tác như vậy là kéo xiên (skew). 

Trỏ vào dấu chọn quay ở giữa cạnh trái khung bao
Dấu trỏ biến thành mũi tên kép thẳng đứng
Kéo dấu chọn lên trên
 
Thả phím chuột
Nhân vật của ta càng "cười sằng sặc" (hình 4)
Ấn Ctrl+Z
 


Hình 4